Luật Ngân sách nhà nước

Thứ năm - 01/01/2026 21:02
Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 sau gần 10 năm thực hiện đã bộc lộ một số hạn chế như: phân cấp ngân sách còn chồng chéo; cơ chế điều hành ngân sách chưa thực sự linh hoạt; kỷ luật tài chính ở một số nơi chưa nghiêm; yêu cầu minh bạch, công khai ngân sách ngày càng cao.
Trên cơ sở đó, Quốc hội đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 nhằm thay thế Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, tạo lập khuôn khổ pháp lý mới, đồng bộ, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu quản trị tài chính công hiện đại và hội nhập quốc tế.
Luật gồm 7 Chương với 79 Điều. Luật này có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 77 đã thi hành từ 01 tháng 7 năm 2025.
Về phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về lập, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, công khai, giám sát ngân sách nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong lĩnh vực ngân sách nhà nước.
Về đối tượng áp dụng gồm:
- Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập.
- Các tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến ngân sách nhà nước.
Những nội dung cơ bản của Luật
1. Hệ thống ngân sách nhà nước
Luật xác định hệ thống ngân sách nhà nước gồm:
- Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
- Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã.
Phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, ngân sách địa phương chỉ còn hai cấp là ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp xã, không còn ngân sách cấp huyện. Việc tổ chức lại hệ thống ngân sách nhằm đơn giản hóa đầu mối quản lý, tăng tính minh bạch, rõ trách nhiệm và phù hợp với cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính mới.
2. Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước
Luật tiếp tục khẳng định và hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản:
- Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; có phân công, phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
- Toàn bộ các khoản thu, chi ngân sách phải được dự toán, tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước.
- Các khoản thu ngân sách thực hiện theo quy định của các luật về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc ngân sách theo quy định của pháp luật.
- Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao, trừ trường hợp tạm cấp ngân sách quy định tại Điều 53 của Luật này và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
- Bảo đảm ưu tiên bố trí ngân sách cho chi đầu tư phát triển để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ về phát triển kinh tế; phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; giảm nghèo bền vững; phát triển nông nghiệp, nông thôn, y tế; chính sách dân tộc; thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và những chính sách quan trọng khác.
- Bố trí ngân sách để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh phí hoạt động của bộ máy nhà nước; các nghĩa vụ của nhà nước trong các cam kết quốc tế, cam kết với các nhà đầu tư.
- Ngân sách nhà nước bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động của tổ chức chính trị, cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; hỗ trợ các tổ chức xã hội thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao.
- Bảo đảm chi trả các khoản nợ lãi đến hạn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước.
- Việc quyết định đầu tư và chi đầu tư chương trình, nhiệm vụ, dự án có sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải phù hợp với Luật Đầu tư công và quy định của pháp luật khác có liên quan.
- Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Trường hợp được ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn điều lệ theo quy định của pháp luật thì phải phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và chỉ thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: được thành lập và hoạt động theo đúng quy định của pháp luật; có khả năng tài chính độc lập; có nguồn thu, nhiệm vụ chi không trùng với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước.
Ngân sách nhà nước bố trí kinh phí cho các quỹ thực hiện nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, xây dựng chính sách, pháp luật theo quy định của pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước.
3. Thu ngân sách nhà nước
Luật quy định rõ các khoản thu của ngân sách nhà nước, bao gồm:
- Các khoản thuế, phí, lệ phí;
- Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;
- Viện trợ không hoàn lại;
- Các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, Luật làm rõ nguyên tắc phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, bảo đảm tính ổn định tương đối và công bằng giữa các địa phương.
4. Chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước được quy định theo hướng:
- Ưu tiên chi cho con người, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ;
- Bảo đảm chi quốc phòng, an ninh, đối ngoại;
- Tăng cường kiểm soát chi thường xuyên, tiết kiệm, chống lãng phí;
- Đẩy mạnh chi đầu tư phát triển gắn với hiệu quả và bền vững.
5. Lập, chấp hành và quyết toán ngân sách
Luật quy định chặt chẽ quy trình:
- Lập dự toán ngân sách: từ cơ sở, tổng hợp lên cấp trên, bảo đảm tính thực tế, đầy đủ và đúng thời hạn;
- Chấp hành ngân sách: thực hiện thu, chi theo dự toán được giao, có kiểm soát của Kho bạc Nhà nước;
- Quyết toán ngân sách: được lập, thẩm tra, phê chuẩn và công khai theo đúng trình tự, thời hạn.
Việc tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Kiểm toán Nhà nước là điểm nhấn quan trọng trong Luật mới.
Luật Ngân sách nhà nước 2025 nhấn mạnh phân cấp gắn với trách nhiệm:
- Quốc hội quyết định dự toán, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;
- Chính phủ tổ chức điều hành ngân sách, bảo đảm cân đối vĩ mô;
- Hội đồng nhân dân các cấp quyết định ngân sách địa phương;
- Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện ngân sách địa phương.
Cùng với đó là trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách.
Về công khai, minh bạch và giám sát ngân sách:
Luật tăng cường yêu cầu công khai ngân sách ở tất cả các khâu: dự toán, phân bổ, chấp hành và quyết toán. Người dân có quyền tiếp cận thông tin ngân sách theo quy định của pháp luật.
Kiểm toán Nhà nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò giám sát việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước.
Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 là bước hoàn thiện quan trọng của thể chế tài chính công Việt Nam. Luật góp phần:
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý ngân sách;
- Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính;
- Đẩy mạnh công khai, minh bạch;
- Phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 không chỉ là công cụ pháp lý quản lý tài chính mà còn là nền tảng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững và nâng cao đời sống nhân dân. Việc triển khai nghiêm túc, hiệu quả Luật sẽ góp phần xây dựng nền tài chính quốc gia an toàn, minh bạch và hiện đại.
Thu Hường

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê website
  • Đang truy cập127
  • Hôm nay38,909
  • Tháng hiện tại1,008,943
  • Tổng lượt truy cập36,283,397
global block tophitss
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây