Phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh được thể hiện rất cụ thể, rõ ràng trong từng nội dung công tác.
Trước hết là làm việc có kế hoạch, mục tiêu rõ ràng, Người luôn xác định việc gì làm trước, việc gì làm sau, phân công công việc hợp lý và tránh tình trạng làm việc tùy tiện, thiếu trọng tâm. Mỗi công việc đều có chương trình, lộ trình và yêu cầu kết quả cụ thể.
Thứ hai là luôn xuất phát từ thực tiễn, coi trọng điều tra, khảo sát. Người không quyết định công việc chỉ dựa trên lý thuyết mà luôn đi sâu tìm hiểu tình hình thực tế, lắng nghe ý kiến của nhân dân, của cơ sở để có cơ sở trước khi đề ra chủ trương, chính sách. Đây là yêu cầu quan trọng để bảo đảm tính đúng đắn và phù hợp của quyết định.
Thứ ba là phong cách làm việc dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể. Người luôn tôn trọng ý kiến của tập thể, khuyến khích thảo luận thẳng thắn để tìm ra phương án tối ưu, tránh chủ quan, độc đoán. Điều này giúp nâng cao chất lượng quyết định và tạo sự đồng thuận trong tổ chức.
Thứ tư là nói đi đôi với làm, đề cao hiệu quả công việc. Người luôn yêu cầu cán bộ phải gắn lời nói với hành động, đã nói là phải làm, đã làm là phải có kết quả cụ thể, thiết thực, tránh hình thức và bệnh thành tích.
Thứ năm là làm việc có kiểm tra, giám sát và rút kinh nghiệm. Người coi kiểm tra là một khâu quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện, nhằm kịp thời phát hiện sai sót, điều chỉnh cách làm và rút ra bài học kinh nghiệm cho những lần sau.
Có thể nhận thấy, trong giai đoạn hiện nay, phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên và hệ thống quản lý các cấp. Trong bối cảnh công việc ngày càng phức tạp, đòi hỏi sự phát triển nhanh và bền vững, việc xây dựng phong cách làm việc có kế hoạch và mục tiêu rõ ràng sẽ giúp hạn chế tính tùy tiện, đồng thời nâng cao tính chủ động và hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó, việc xuất phát từ thực tiễn, tăng cường điều tra, khảo sát giúp các quyết sách được sát với đời sống, phù hợp điều kiện thực tế, tránh chủ quan, duy ý chí. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế với thông tin biến động nhanh, phong cách làm việc khoa học đã trở thành yêu cầu cấp thiết, góp phần nâng cao năng lực quản lý, hiệu quả công tác và thúc đẩy phát triển đất nước.
Hiện nay, khoa Xây dựng Đảng có 18 giảng viên và giảng viên kiêm nhiệm, trong đó giảng viên cao cấp: 01 đồng chí; giảng viên chính: 13 đồng chí, giảng viên 04 đồng chí. Thời gian qua, Khoa Xây dựng Đảng đã triển khai việc học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả công tác và xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên chuyên nghiệp, trách nhiệm. Khoa chú trọng xây dựng kế hoạch làm việc rõ ràng, xác định mục tiêu cụ thể cho từng nhiệm vụ, giúp tránh dàn trải, nâng cao tính chủ động. Các hoạt động sinh hoạt chuyên đề được duy trì, nhận thức của cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên, bước đầu vận dụng vào giảng dạy và nghiên cứu. Đồng thời, khoa gắn lý luận với thực tiễn thông qua tăng cường khảo sát cơ sở, cập nhật nội dung giảng dạy, lấy ý kiến từ học viên và thực tiễn để nâng cao chất lượng tham mưu. Mỗi nhiệm vụ đều hướng tới sản phẩm cụ thể, cán bộ, giảng viên phát huy vai trò nêu gương, tạo ảnh hưởng tích cực đối với học viên. Trong hoạt động chuyên môn, tinh thần dân chủ được phát huy thông qua việc triển khai nhiệm vụ chuyên môn, thảo luận tập thể, khuyến khích giảng viên đóng góp ý kiến, phản biện khoa học. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng quyết định mà còn tạo sự đồng thuận, đoàn kết nội bộ. Việc thực hiện tốt nguyên tắc “nói đi đôi với làm” cũng đã có hiệu quả, giúp cho giảng viên thống nhất giữa lời nói, việc làm, đảm bảo tiến độ trong công việc. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát và rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động giảng dạy được khoa tổ chức hiệu quả, nghiêm túc. Thông qua việc kiểm tra không phải tìm lỗi của giảng viên mà để kịp thời điều chỉnh phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy.
Bên cạnh những kết quả đạt được khi vận dụng phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh, trong thực tiễn hoạt động của khoa xây dựng Đảng vẫn còn một số hạn chế cần nhìn nhận thẳng thắn, đó là: việc xây dựng kế hoạch ở một số thời điểm còn chưa thật sự sát với yêu cầu thực tiễn. Công tác nắm bắt thực tế tuy đã được chú trọng nhưng chưa thường xuyên. Một số nội dung giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên vẫn còn nặng về lý luận.
Những hạn chế vừa nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trong đó việc nhận thức về phong cách làm việc khoa học của một bộ phận cán bộ, giảng viên vẫn chưa được đầy đủ và sâu sắc. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo ở một số thời điểm chưa thật sự chặt chẽ, chưa có sự khuyến khích, động viên với những cách làm mới, sáng tạo của một số giảng viên. Bên cạnh đó, năng lực nghiên cứu thực tiễn và cập nhật kiến thức của một số giảng viên còn hạn chế.
Để nâng cao hiệu quả học tập phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh tại Khoa Xây dựng Đảng, xin được đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:
Một là, nâng cao nhận thức của cán bộ, giảng viên khoa về phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Để nâng cao nhận thức về việc học tập phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh cho cán bộ, giảng viên một cách hiệu quả, điều quan trọng là phải chuyển từ cách tiếp cận mang tính hình thức sang thực chất, gắn chặt với công việc hằng ngày. Trước hết, cần tổ chức quán triệt nội dung một cách sâu sắc, giúp mỗi người hiểu rõ bản chất của phong cách làm việc khoa học không chỉ là lý thuyết mà là phương pháp làm việc cụ thể: có kế hoạch, có kiểm tra, dựa trên thực tiễn và hướng tới hiệu quả. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở học tập chung chung thì khó tạo chuyển biến, vì vậy cần làm rõ ý nghĩa thực tiễn trong từng nhiệm vụ như giảng dạy phải khoa học. Trong chuẩn bị bài và đánh giá người học cần có sự nghiên cứu phải logic, trung thực và có định hướng, còn quản lý phải minh bạch, có căn cứ.
Bên cạnh đó, cần đổi mới cách tổ chức học tập theo hướng tăng tương tác, thảo luận tình huống, liên hệ trực tiếp với công việc cá nhân để người học thấy được “học để làm gì” và “áp dụng ra sao”. Một yếu tố then chốt khác là gắn việc học tập với đánh giá kết quả công việc, lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo thay vì chỉ đánh giá qua hình thức tham gia. Đồng thời, cần duy trì kiểm tra, giám sát và phản hồi thường xuyên để kịp thời điều chỉnh, bảo đảm việc học tập thực sự đi vào chiều sâu và tạo ra thay đổi trong tác phong, lề lối làm việc. Khi các nội dung này được triển khai đồng bộ, nhận thức của cán bộ, giảng viên sẽ không chỉ dừng ở hiểu biết mà sẽ chuyển hóa thành hành động cụ thể, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu và quản lý.
Hai là, cụ thể hóa các công việc trong khoa thành các tiêu chí rõ ràng.
Để việc học tập và vận dụng phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh đi vào thực chất, cần xây dựng một bộ tiêu chí “làm việc khoa học” phù hợp với đặc thù hoạt động của khoa, làm căn cứ thống nhất cho tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá. Bộ tiêu chí này nên được thiết kế theo hướng cụ thể, dễ đo lường và gắn trực tiếp với nhiệm vụ của cán bộ, giảng viên, trong đó tập trung vào các nội dung cốt lõi như làm việc có kế hoạch rõ ràng, xác định mục tiêu và lộ trình thực hiện; có cơ chế theo dõi, báo cáo tiến độ định kỳ; và có đánh giá kết quả dựa trên sản phẩm, chất lượng công việc cũng như mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Việc xây dựng tiêu chí cần có sự tham gia đóng góp của tập thể để bảo đảm tính phù hợp, khả thi và tạo sự đồng thuận trong triển khai. Khi được áp dụng nghiêm túc, bộ tiêu chí không chỉ giúp chuẩn hóa tác phong làm việc mà còn tạo cơ sở để kiểm tra, giám sát và đánh giá một cách khách quan, minh bạch, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, nghiên cứu và công tác quản lý trong khoa.
Đồng thời, cần nghiên cứu, thực hiện kiểm tra định kỳ; đưa tiêu chí làm việc khoa học vào đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên; gắn với công tác thi đua, khen thưởng. Từ đó, có cơ sở để cấp trên xem xét, đánh giá thực hiện nhiệm vụ cuối năm. Nghiêm túc đánh giá, nhìn nhận những vấn đề chưa phù hợp trong quá trình làm việc của khoa, cá nhân giảng viên để có hướng điều chỉnh kịp thời. Bản thân lãnh đạo khoa cũng cần phải đi đầu trong việc thực hiện phong cách làm việc khoa học, từ đó tạo sự lan tỏa trong cán bộ, giảng viên trong khoa.
Ba là, đổi mới sinh hoạt chuyên môn tại khoa
Đổi mới sinh hoạt chuyên môn là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả học tập và vận dụng phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Theo đó, cần tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng thiết thực, bám sát nhiệm vụ và các tình huống cụ thể phát sinh trong công việc giảng dạy, nghiên cứu. Thay vì triển khai nội dung một cách chung chung, nặng về lý thuyết cần có những nội dung chuyên môn gắn với tình huống cụ thể trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, trong quá trình sinh hoạt, cần tăng cường thảo luận, trao đổi kinh nghiệm giữa các giảng viên, khuyến khích chia sẻ cách làm hay, những khó khăn vướng mắc và biện pháp khắc phục để tạo sự lan tỏa trong tập thể. Đồng thời, hạn chế tối đa các biểu hiện hình thức, đọc báo cáo một chiều, mà chuyển sang đối thoại, phân tích vấn đề và đề xuất giải pháp cụ thể gắn với từng cá nhân, từng nhiệm vụ. Qua đó, sẽ làm cho sinh hoạt chuyên môn trở thành diễn đàn thực chất giúp nâng cao nhận thức, rèn luyện tác phong làm việc khoa học và nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, giảng viên.
Bên cạnh đó, mỗi giảng viên cần nêu cao trách nhiệm trong công việc, sự sáng tạo trong công việc. Thường xuyên chủ động nghiên cứu, cập nhật và đưa các nội dung của Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các nghị quyết trung ương (nhất là các Nghị quyết "trụ cột' ) vào bài giảng một cách phù hợp. Cùng với lý luận, tích cực soi chiếu, vận dụng và gắn với cơ sở để thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, đảm bảo bài giảng không khô cứng, thiếu hơi thở của thực tiễn. Làm tốt nội dung này sẽ góp phần để các buổi sinh hoạt chuyên môn của khoa đạt hiệu quả, sát thực và phục vụ trực tiếp cho mỗi giảng viên nâng cao chất lượng bài giảng của mình.
Bốn là, ứng dụng công nghệ trong thực hiện công việc
Để nâng cao hiệu quả thực hiện phong cách làm việc khoa học trong bối cảnh hiện nay, nhất là thiết thực triển khai và vận dụng tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin cần được triển khai một cách đồng bộ, gắn với yêu cầu thực tiễn của khoa. Nghiên cứu và sử dụng các phần mềm quản lý công việc, lịch biểu và theo dõi tiến độ giúp kế hoạch không chỉ dừng ở văn bản mà được cập nhật, giám sát theo thời gian thực. Mỗi nhiệm vụ cần được gắn với người phụ trách, thời hạn cụ thể để đảm bảo công việc thực hiện đúng tiến độ.
Đồng thời, mỗi giảng viên cũng cần tăng cường ứng dụng công nghệ trong điều tra, khảo sát và nắm bắt thực tiễn. Có thể sử dụng các công cụ khảo sát trực tuyến, hệ thống thu thập dữ liệu số từ cơ sở, kết hợp phân tích dữ liệu để kịp thời cập nhật những vấn đề mới phát sinh. Điều này giúp nội dung giảng dạy và nghiên cứu bám sát thực tiễn hơn, tránh tình trạng nặng về lý luận.
Phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh là một trong những phong cách có ý nghĩa sâu sắc đối với việc nâng cao chất lượng công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với Khoa Xây dựng Đảng, việc học tập và vận dụng hiệu quả phong cách này không chỉ góp phần nâng cao năng lực chuyên môn mà còn khẳng định giá trị của tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Để đạt được hiệu quả thực chất, cần có sự quyết tâm cao, sự vào cuộc đồng bộ của cả tập thể và mỗi cá nhân. Chỉ khi việc học tập gắn liền với hành động cụ thể, có kiểm tra, đánh giá rõ ràng, thì phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới thực sự đi vào cuộc sống và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của khoa Xây dựng Đảng./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bảo tàng Hồ Chí Minh: Phong cách làm việc Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, HN.2025
2.Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN.2011
3.Phong cách làm việc Hồ Chí Minh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXb Chính trị Quốc gia Sự thật, HN.2019