Phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới tại tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba - 09/06/2026 09:11
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: “Kinh tế tập thể phát triển và chuyển đổi sang mô hình kiểu mới phù hợp hơn với kinh tế thị trường hiện đại”(1). Trong giai đoạn hiện nay, phát triển hợp tác xã kiểu mới trở thành yêu cầu quan trọng nhằm phát huy sức mạnh liên kết, khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững. Với truyền thống phát triển kinh tế tập thể cùng những lợi thế về nông nghiệp hàng hóa, sản phẩm OCOP và kinh tế nông thôn, Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển khu vực hợp tác xã theo hướng hiện đại, hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra những yêu cầu mới về quản trị, liên kết sản xuất, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh, đòi hỏi những giải pháp phù hợp để kinh tế tập thể thực sự trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI
Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới và phát triển kinh tế tập thể trở thành yêu cầu khách quan nhằm phát huy sức mạnh liên kết của các chủ thể sản xuất, đặc biệt là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định: “Phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả, bền vững, cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”(2). Đây là định hướng quan trọng nhằm khẳng định vị trí, vai trò của kinh tế tập thể trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn mới.
Theo Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA), hợp tác xã là một tổ chức tự chủ của những người tự nguyện liên kết với nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một doanh nghiệp do các thành viên cùng sở hữu và quản lý dân chủ (3). Từ góc độ kinh tế học, hợp tác xã kiểu mới được xem là mô hình kết hợp giữa cơ chế thị trường và giá trị cộng đồng, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa phát huy tinh thần hợp tác, tương trợ giữa các thành viên. Việc Liên Hợp Quốc tuyên bố năm 2025 là Năm quốc tế Hợp tác xã lần thứ hai tiếp tục nhấn mạnh vai trò của khu vực này trong thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs)(4).
Hợp tác xã kiểu mới được xem là công cụ quan trọng nhằm khắc phục những hạn chế của sản xuất nhỏ trong nền kinh tế thị trường. Thông qua cơ chế liên kết và tập hợp nguồn lực, hợp tác xã góp phần giảm chi phí giao dịch, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, khoa học - công nghệ, tín dụng và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất cho thành viên; từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, năng lực cạnh tranh và thu nhập của người dân(5).
Thực tiễn phát triển kinh tế hợp tác trên thế giới cho thấy các hợp tác xã hiện đại đang vận động theo hai xu hướng chủ yếu. Một là, mở rộng quy mô và tăng cường liên kết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô. Hai là, phát triển gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các mục tiêu phát triển bền vững, góp phần tạo việc làm, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu(5).
Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Quốc hội đã ban hành Luật Hợp tác xã năm 2023 với nhiều điểm đổi mới quan trọng nhằm tăng tính tự chủ, nâng cao hiệu quả hoạt động và mở rộng khả năng huy động nguồn lực cho hợp tác xã. Việc bổ sung quy định về thành viên liên kết góp vốn, thành viên liên kết không góp vốn cùng cơ chế giới hạn tỷ lệ vốn góp của các thành viên liên kết đã tạo điều kiện thu hút nguồn lực xã hội nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc quản trị dân chủ và vai trò quyết định của thành viên chính thức(6). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hợp tác xã phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và phù hợp hơn với cơ chế thị trường.
Những định hướng phát triển đất nước được xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu mới đối với khu vực kinh tế tập thể. Trong bối cảnh phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, các hợp tác xã cần đổi mới quản trị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường liên kết chuỗi giá trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy vai trò trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1. Những kết quả nổi bật trong phát triển hợp tác xã kiểu mới
Quy mô và số lượng hợp tác xã tiếp tục tăng, từng bước khẳng định vị thế của khu vực kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Theo số liệu của Liên minh Hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên, đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 1.329 hợp tác xã và 7 liên hiệp hợp tác xã với trên 47.000 thành viên và người lao động tham gia. Trong đó, lĩnh vực nông nghiệp có 899 hợp tác xã, chiếm gần 68% tổng số hợp tác xã toàn tỉnh. Tổng vốn hoạt động đạt khoảng 3.950 tỷ đồng; doanh thu hằng năm đạt trên 6.880 tỷ đồng; doanh thu bình quân đạt hơn 6 tỷ đồng/hợp tác xã/năm(7).
Chất lượng hoạt động của các hợp tác xã từng bước được nâng cao, vai trò liên kết sản xuất và tham gia chuỗi giá trị ngày càng được khẳng định. Sự gia tăng về số lượng hợp tác xã phản ánh xu hướng phát triển tích cực của khu vực kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh. Nhiều hợp tác xã đã tham gia toàn diện vào các khâu từ tổ chức sản xuất, cung ứng vật tư, hướng dẫn kỹ thuật, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều hợp tác xã đã trở thành hạt nhân liên kết sản xuất đối với các sản phẩm chủ lực của địa phương như chè, rau an toàn, cây ăn quả, chăn nuôi, lâm nghiệp và dược liệu. Việc hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và truy xuất nguồn gốc đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Các hợp tác xã ngày càng phát huy vai trò trong xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm OCOP và nâng cao giá trị sản phẩm địa phương. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy các hợp tác xã đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh. Đến nay, Thái Nguyên có 13 sản phẩm OCOP đạt 5 sao; trong đó Hợp tác xã Hảo Đạt và Hợp tác xã Hương Vân Trà là những đơn vị tiêu biểu có sản phẩm được công nhận OCOP 5 sao. Tính đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 620 lượt sản phẩm OCOP đạt từ 3 đến 5 sao; giá trị kinh tế của các sản phẩm sau khi được công nhận tăng từ 20% trở lên(8). Nhiều sản phẩm như chè đặc sản, miến dong, nông sản chế biến và các sản phẩm từ dược liệu đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và quảng bá hình ảnh địa phương.
Năng lực quản trị và khả năng thích ứng với xu thế chuyển đổi số của các hợp tác xã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều mô hình hợp tác xã tiêu biểu đã được vinh danh tại Giải thưởng Ngôi sao Hợp tác xã (CoopStar Awards), Giải thưởng Mai An Tiêm năm 2026 và các diễn đàn hợp tác xã trong nước, quốc tế. Đáng chú ý, bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc Hợp tác xã Chè Hảo Đạt, được vinh danh ở hạng mục “Nhà lãnh đạo tiên phong” của Liên minh Hợp tác xã quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ICA-AP) năm 2025, cho thấy sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã. Cùng với đó, nhiều hợp tác xã đã chủ động ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; từng bước triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc, mã QR, các nền tảng thương mại điện tử và công cụ quảng bá trên môi trường số(9). Đây là nền tảng quan trọng giúp các hợp tác xã nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng thị trường và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế số.
Những kết quả đạt được cho thấy khu vực hợp tác xã ở Thái Nguyên đang từng bước khẳng định vai trò là lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của địa phương.
2.2. Những khó khăn, hạn chế đối với phát triển hợp tác xã kiểu mới ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Bên cạnh những kết quả đạt được, sự phát triển của khu vực hợp tác xã ở Thái Nguyên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Là trung tâm kinh tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của vùng trung du và miền núi phía Bắc; đồng thời là đầu mối kết nối giữa khu vực trung du, miền núi với Thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng sông Hồng, Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các mô hình hợp tác xã hiện đại gắn với sản xuất hàng hóa, kinh tế số và chuỗi giá trị. Cùng với thế mạnh về chè, sản phẩm OCOP, dược liệu, lâm nghiệp và du lịch cộng đồng, đây là những nền tảng quan trọng để kinh tế tập thể phát triển theo hướng hiện đại và bền vững. Tuy nhiên, những tiềm năng và lợi thế đó vẫn chưa được khai thác đầy đủ.
Một là, vai trò chủ thể của thành viên và sức mạnh nội sinh của hợp tác xã ở một số nơi chưa được phát huy hiệu quả; tính liên kết, hợp tác và khả năng huy động nguồn lực từ cộng đồng còn hạn chế.
Hai là, năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển của nhiều hợp tác xã chưa đáp ứng yêu cầu. Lợi thế của địa phương về giáo dục, đào tạo và khoa học - công nghệ chưa được chuyển hóa mạnh mẽ thành động lực nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã.
Ba là, quá trình chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn còn chậm so với yêu cầu phát triển và xu thế chung của nền kinh tế.
Bốn là, việc khai thác lợi thế về vị trí địa kinh tế, các sản phẩm đặc trưng và liên kết vùng chưa tương xứng với tiềm năng; liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và hệ thống phân phối còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Trước yêu cầu phát triển kinh tế tập thể theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới,  Luật Hợp tác xã năm 2023 và định hướng của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tỉnh Thái Nguyên cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Thứ nhất, phát huy nội lực, nâng cao vai trò chủ thể của thành viên và hợp tác xã. Phát triển hợp tác xã kiểu mới trước hết phải dựa trên việc phát huy nội lực, khơi dậy tinh thần hợp tác, liên kết và trách nhiệm của các thành viên. Thực tiễn cho thấy, những hợp tác xã hoạt động hiệu quả đều xây dựng được sự đồng thuận trong nội bộ, gắn lợi ích của thành viên với sự phát triển của tập thể. Vì vậy, cần tiếp tục nâng cao nhận thức về bản chất của hợp tác xã kiểu mới là tổ chức kinh tế tự chủ, tự nguyện, cùng có lợi; đồng thời phát huy vai trò chủ thể của người dân trong sản xuất, kinh doanh và tham gia quản trị hợp tác xã. Đây là yếu tố nền tảng để huy động nguồn lực xã hội, củng cố sức mạnh cộng đồng và tạo động lực phát triển bền vững cho khu vực kinh tế tập thể.
Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận nguồn lực phát triển của hợp tác xã. Một trong những điểm nghẽn lớn của nhiều hợp tác xã hiện nay là năng lực quản trị, khả năng xây dựng phương án sản xuất kinh doanh và tiếp cận nguồn vốn. Do đó, cần tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại; tăng cường kỹ năng quản trị tài chính, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và quản trị rủi ro. Đồng thời, triển khai hiệu quả Luật Hợp tác xã năm 2023, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã tiếp cận tín dụng, đất đai, khoa học công nghệ và các chương trình hỗ trợ của Nhà nước. Khuyến khích thu hút đội ngũ trí thức trẻ, sinh viên tốt nghiệp đại học tham gia làm việc tại hợp tác xã, từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế tập thể.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn trong hoạt động của hợp tác xã. Thực hiện định hướng của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV về phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, các hợp tác xã cần chủ động đổi mới phương thức sản xuất, quản trị và tiêu thụ sản phẩm. Tỉnh cần hỗ trợ hợp tác xã ứng dụng công nghệ số trong quản lý, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Đồng thời, khuyến khích phát triển các mô hình sản xuất hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải. Đây không chỉ là yêu cầu của thị trường mà còn là điều kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Thứ tư, phát huy lợi thế đặc thù của địa phương, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Thái Nguyên có nhiều lợi thế để phát triển các hợp tác xã gắn với chè, sản phẩm OCOP, dược liệu, lâm nghiệp và du lịch cộng đồng. Vì vậy, cần tập trung xây dựng các hợp tác xã mạnh theo chuỗi giá trị, tăng cường liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, nhà khoa học, tổ chức tín dụng và cơ sở đào tạo. Đặc biệt, đối với ngành chè - sản phẩm mang tính biểu tượng của địa phương - cần đẩy mạnh sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng cao, chế biến sâu, phát triển thương hiệu và mở rộng thị trường trong nước, quốc tế. Đồng thời, phát triển các mô hình hợp tác xã gắn với du lịch sinh thái, du lịch văn hóa trà và sản phẩm OCOP nhằm gia tăng giá trị sản phẩm, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.
Thực tiễn cho thấy, khu vực hợp tác xã ở tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, trước yêu cầu của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế, các hợp tác xã cần tiếp tục đổi mới mô hình hoạt động, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và phát huy hiệu quả các lợi thế đặc thù của địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để kinh tế tập thể phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh Thái Nguyên theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, tr.108.
(2) Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
(3) International Cooperative Alliance (ICA) https://ica.coop/en/cooperatives/cooperative-identity
(4) International Labour Organization (ILO) https://www.ilo.org/resource/news/measures-strengthen-cooperatives-and-their-role-sustainable-development
(5) Bùi Nhật Huy, Cao Minh Ngọc (2026) Phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp; https://tapchikinhtetaichinh.vn/phat-trien-mo-hinh-hop-tac-xa-kieu-moi-tai-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-144154.html
(6) Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15, Điều 30, Điều 31
(7) Hằng Nga (2026), Doanh thu bình quân 1 hợp tác xã đạt trên 5 tỷ đồng; https://baothainguyen.vn/kinh-te/202601/doanh-thu-binh-quan-1-hop-tac-xa-dat-tren-5-ty-dong-6541e28/
(8) Tùng Lâm (2026), Thái Nguyên có thêm 3 sản phẩm đạt OCOP 5 sao, https://baothainguyen.vn/kinh-te/202604/thai-nguyen-co-them-3-san-pham-dat-ocop-5-sao-f840b99/
(9) 4 đại diện của Thái Nguyên được trao Giải Ngôi sao Hợp tác xã và Mai An Tiêm năm 2026 https://lienminhhoptacxa.thainguyen.gov.vn/nong-thon-moi/4-dai-dien-cua-thai-nguyen-duoc-trao-giai-ngoi-sao-hop-tac-xa-va-mai-an-tiem-nam-2026-264588
                                                ThS Nguyễn Thị Hiền Thương
                                     Phòng Quản lý đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học

 



 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê website
  • Đang truy cập156
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm155
  • Hôm nay25,472
  • Tháng hiện tại814,062
  • Tổng lượt truy cập43,932,300
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây