Đồng bộ giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với cơ chế bảo vệ cán bộ “7 dám”

Thứ hai - 08/06/2026 09:43
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Bước vào giai đoạn phát triển mới, khi đất nước đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hoàn thiện mô hình tăng trưởng và nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ là trung thành, tận tụy mà còn phải “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”.
Tuy nhiên, song hành với yêu cầu phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo là đòi hỏi phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực và kiểm soát quyền lực. Đây là vấn đề mang tính biện chứng sâu sắc. Nếu chỉ nhấn mạnh kỷ luật mà thiếu cơ chế bảo vệ người đổi mới sẽ dễ dẫn đến tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm, làm giảm tính năng động của bộ máy. Ngược lại, nếu chỉ đề cao đổi mới sáng tạo mà thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực thì có thể tạo ra khoảng trống cho tình trạng tùy tiện, lạm quyền hoặc hợp thức hóa sai phạm.
Trong bối cảnh đó, Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng cùng với chủ trương xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ “7 dám” thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy lãnh đạo của Đảng. Hai cơ chế này không tồn tại độc lập hay đối lập nhau, mà bổ sung, hỗ trợ và đồng bộ nhằm hướng tới mục tiêu chung là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, vừa có năng lực đổi mới sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao.
Việc nghiên cứu sự đồng bộ giữa Quy định số 21-QĐ/TW với cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Qua đó góp phần làm rõ tư duy quản trị quyền lực của Đảng trong bối cảnh mới, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện trong thực tiễn.
Tăng cường kiểm tra, giám sát để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng
Quy định số 21-QĐ/TW thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Một trong những nội dung nổi bật của Quy định là khẳng định mạnh mẽ nguyên tắc “mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng”. Theo đó, mọi tổ chức đảng và đảng viên đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật nếu có vi phạm, không có ngoại lệ. Đây không chỉ là sự kế thừa quan điểm nhất quán của Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà còn thể hiện quyết tâm chính trị cao trong xử lý nghiêm minh các sai phạm, kể cả đối với cán bộ đã nghỉ hưu hay tổ chức đảng đã giải thể, sáp nhập.
Trên cơ sở đó, Quy định số 21-QĐ/TW chuyển mạnh tư duy từ “xử lý khi có vi phạm” sang “phòng ngừa, phát hiện sớm vi phạm”. Quy định yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động nắm tình hình, phát hiện từ sớm, từ xa các dấu hiệu vi phạm để kịp thời ngăn chặn, không để sai phạm nhỏ tích tụ thành vi phạm lớn gây hậu quả nghiêm trọng. Điều này cho thấy công tác giám sát không chỉ dừng ở vai trò xử lý hậu quả mà đã trở thành công cụ phòng ngừa hữu hiệu, phù hợp với yêu cầu quản trị hiện đại.
Bên cạnh tính nghiêm minh, Quy định cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây là điểm mới có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh hiện nay khi vẫn còn tình trạng cán bộ e dè, sợ sai, né tránh trách nhiệm. Việc gắn kiểm tra, giám sát với bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo giúp tạo động lực cho đội ngũ cán bộ chủ động hành động, đồng thời phân biệt rõ giữa sai phạm do vụ lợi với những rủi ro phát sinh trong quá trình đổi mới, sáng tạo.
Để bảo đảm hiệu quả thực chất, Quy định số 21-QĐ/TW yêu cầu công tác kiểm tra, giám sát phải được thực hiện công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, chặt chẽ và kịp thời. Điều này góp phần hạn chế tình trạng lạm quyền, tùy tiện hoặc thiếu khách quan trong quá trình kiểm tra và xử lý kỷ luật. Đồng thời, việc mở rộng phạm vi xử lý trách nhiệm đối với cả cán bộ nghỉ hưu, chuyển công tác hay tổ chức đảng đã giải thể tiếp tục khẳng định tính liên tục của trách nhiệm chính trị, nâng cao tính răn đe và giáo dục trong toàn Đảng.
Cơ chế bảo vệ cán bộ “7 dám” gắn với kiểm soát quyền lực
Xây dựng cơ chế đồng bộ giữa kiểm soát quyền lực với khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm vừa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng, vừa khơi dậy tinh thần đổi mới, trách nhiệm và khát vọng cống hiến trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Chủ trương này được thể hiện rõ trong Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Kết luận nhấn mạnh yêu cầu tạo môi trường thuận lợi để cán bộ phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ; đồng thời phân biệt rõ giữa sai phạm do động cơ vụ lợi với những sai sót phát sinh trong quá trình thử nghiệm, đổi mới vì lợi ích chung. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về quản trị cán bộ, góp phần khắc phục tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ hiện nay.
Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 nhằm cụ thể hóa cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Nghị định xác lập các nguyên tắc bảo vệ cán bộ có động cơ trong sáng, hành động vì lợi ích chung, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc xem xét trách nhiệm đối với những rủi ro phát sinh trong quá trình đổi mới sáng tạo.
Song song với việc khuyến khích đổi mới, Đảng tiếp tục tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ thông qua Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị. Quy định tập trung phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; ngăn chặn tình trạng lạm quyền, chạy chức, chạy quyền và lợi dụng đổi mới để hợp thức hóa sai phạm.
Có thể thấy, Kết luận số 14-KL/TW, Nghị định số 73/2023/NĐ-CP và Quy định số 114-QĐ/TW đã hình thành cơ chế tương đối đồng bộ giữa “khuyến khích” và “kiểm soát”, giữa “bảo vệ” và “kỷ luật”. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ vừa liêm chính, kỷ cương, vừa năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Sự đồng bộ giữa Quy định số 21-QĐ/TW với cơ chế bảo vệ cán bộ “7 dám”
Thứ nhất, đồng bộ về mục tiêu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị:
Quy định số 21-QĐ/TW tập trung vào việc giữ nghiêm kỷ luật, tăng cường kiểm soát quyền lực nhằm ngăn ngừa suy thoái, tham nhũng và lợi ích nhóm. Trong khi đó, cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo hướng tới phát huy nguồn lực con người, giải phóng tư duy sáng tạo và khuyến khích tinh thần cống hiến. Một tổ chức mạnh không chỉ cần kỷ luật nghiêm minh mà còn cần sức sáng tạo và khả năng thích ứng với thực tiễn. Kỷ luật mà thiếu sáng tạo sẽ dẫn đến bảo thủ, trì trệ; ngược lại, sáng tạo mà thiếu kỷ cương sẽ dẫn đến tùy tiện, mất kiểm soát. Vì vậy, sự kết hợp giữa hai cơ chế chính là sự kết hợp giữa “xây” và “chống”, giữa “ổn định” và “đổi mới”.
Thứ hai, đồng bộ trong kiểm soát và sử dụng quyền lực:
Một trong những nội dung cốt lõi của Quy định số 21-QĐ/TW là kiểm soát quyền lực. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong điều kiện Đảng cầm quyền, khi nguy cơ tha hóa quyền lực luôn hiện hữu. Công tác kiểm tra, giám sát giúp bảo đảm mọi quyền lực đều được ràng buộc bởi trách nhiệm, nguyên tắc và pháp luật. Tuy nhiên, kiểm soát quyền lực không đồng nghĩa với triệt tiêu tính chủ động của cán bộ. Nếu cơ chế kiểm tra, giám sát được thực hiện cứng nhắc, máy móc sẽ dẫn đến tâm lý sợ trách nhiệm, không dám quyết định, không dám đổi mới. Đây chính là điểm mà cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo có vai trò bổ sung quan trọng.
Cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm tạo ra “không gian an toàn chính trị” để cán bộ hành động vì lợi ích chung, đặc biệt trong những lĩnh vực mới, chưa có tiền lệ hoặc còn thiếu quy định cụ thể. Khi cán bộ biết rằng mình sẽ được xem xét công tâm, khách quan nếu hành động vì lợi ích chung, họ sẽ có thêm động lực để đổi mới và sáng tạo.
Sự đồng bộ giữa hai cơ chế thể hiện ở chỗ: kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn lạm quyền và vi phạm; còn bảo vệ cán bộ đổi mới nhằm khuyến khích sử dụng quyền lực đúng đắn, hiệu quả và vì nhân dân. Đây là hai mặt thống nhất trong quản trị quyền lực hiện đại.
Thứ ba, đồng bộ trong đánh giá cán bộ:
Trong tư duy quản lý truyền thống, việc đánh giá cán bộ đôi khi còn nặng về hình thức, chưa chú ý đầy đủ đến động cơ, bối cảnh và mức độ của hành vi. Điều này dễ dẫn đến tình trạng đánh đồng giữa sai phạm do vụ lợi với sai sót phát sinh trong quá trình đổi mới. Chủ trương bảo vệ cán bộ “7 dám” đã góp phần thay đổi tư duy đó. Việc đánh giá cán bộ cần được đặt trong tổng thể nhiều yếu tố như mục tiêu hành động, động cơ chính trị, lợi ích hướng tới, quy trình thực hiện và hiệu quả thực tiễn. Sai sót trong quá trình đổi mới nếu xuất phát từ động cơ trong sáng, không vụ lợi và vì lợi ích chung cần được xem xét khác với hành vi cố ý vi phạm để trục lợi cá nhân. Điều này không làm giảm tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng mà ngược lại còn giúp công tác kiểm tra, giám sát trở nên khách quan, công bằng và có sức thuyết phục hơn. Một nền quản trị hiệu quả không phải là nền quản trị khiến cán bộ “không dám làm gì”, mà là nền quản trị vừa ngăn chặn vi phạm vừa khuyến khích cống hiến.
Có thể khẳng định, Quy định số 21-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng cùng với cơ chế bảo vệ cán bộ “7 dám” là hai bộ phận quan trọng trong tư duy xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Đây không phải là hai cơ chế đối lập mà là hai mặt bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau trong quản trị quyền lực và phát huy nguồn lực con người.
Nếu Quy định số 21-QĐ/TW tạo ra khuôn khổ kỷ luật nghiêm minh để kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa suy thoái và tham nhũng thì cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo lại tạo động lực để đội ngũ cán bộ phát huy tinh thần trách nhiệm, năng lực sáng tạo và khát vọng cống hiến vì lợi ích chung. Sự đồng bộ giữa hai cơ chế phản ánh tư duy lãnh đạo ngày càng khoa học, biện chứng và thực tiễn của Đảng trong điều kiện phát triển mới.
Chỉ khi kết hợp hài hòa giữa “kỷ cương” và “đột phá”, giữa “kiểm soát” và “khuyến khích”, mới có thể xây dựng được đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong thời kỳ mới./.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị khóa XIII (2021), Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung;
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng.
3. Bộ Chính trị khóa XIII (2023), Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
4. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2023), Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
5. Tạp chí Cộng sản (2025), “Mối quan hệ biện chứng giữa siết chặt kỷ luật, kỷ cương và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo trong giai đoạn hiện nay”, số xuất bản định kỳ năm 2025.
                                                             ThS Ma Thị Hồng Minh
                                                                                    Khoa Xây dựng Đảng


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê website
  • Đang truy cập171
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm170
  • Hôm nay25,591
  • Tháng hiện tại814,181
  • Tổng lượt truy cập43,932,419
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây